Thứ Tư, 24 tháng 7, 2013

Cách giúp mẹ chăm sóc trẻ sơ sinh an toàn và khoa học nhất


Chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ là nỗi băn khoăn lo lắng của nhiều bậc làm cha mẹ, nhất là những ông bố, bà mẹ vẫn còn trẻ. Do trẻ có những biến chuyển nhanh chóng, nếu như ta không để ý có thể chúng ta sẽ cảm thấy quá lo lắng nên không biết xử lý thế nào cho được đúng nhất. Bé nhà mình mới được 5 tháng tuổi nhưng mình cũng xin chia sẻ một số kinh nghiệm trong việc chăm sóc bé cùng mọi người nhé.
Việc đầu tiên khiến các mẹ luôn lo lắng là trong khi cho con bú bé thường ọc sữa. Và đây là việc rất bình thường đối với trẻ, chính vì thế các mẹ hãy bình tĩnh. Ngay khi bé ọc sữa, Bạn hãy nghiêng người bé lại và vỗ nhẹ sau lưng bé vài cái. Và để tránh việc bé thường xuyên ọc sữa thì các mẹ nên cho bé bú cao đầu, nếu như bé bú bình thì nên nghiêng bình sữa 45 độ để sữa ngập kín miệng bình. Và không nên cho bé bú quá no mà có thể chia thành nhiều lần.
Trẻ sơ sinh cũng thường xuyên bị ho. Nếu như khi bé ho ít, các mẹ có thể lấy một ít mật ong bôi lên đầu lưỡi bé. Nếu như bé ho dày hơn, có thể lấy quả quất dằm nhỏ cho thêm 1-2 thìa cà phê mật ong, hấp trong nồi cơm, và sau đó chắt nước cho bé uống. Và ngoài ra chúng ta cũng có thể dùng nước nhỏ mắt 0.9% nhỏ vào mũi bé vài giọt, chắc chắn bé sẽ bớt ho ngay. Nếu như ở vùng thời tiết hơi lạnh, vì vậy các mẹ nhớ luôn quàng khăn sữa cho bé để bảo vệ cổ cho bé. Các bé rất thường ra mồ hôi, chúng ta cần để ý mỗi lúc bé đang ngủ. Không nên ủ ấm quá cho trẻ, vì các mẹ thường có suy nghĩ trời lạnh cần phải mặc cho bé thật ấm. Bé thường ra mồ hôi rất nhiều ở lưng,và  cần phải kiểm tra thường xuyên và lau khô mồ hôi. Và nếu như để vậy mồ hôi sẽ ngấm ngược vào da và trẻ rất dễ bị viêm phổi hoặc viêm phế quản.
Đôi khi trong quá trình cho trẻ sơ sinh bú, mẹ thì không biết tại sao bé thường xuyên khóc mà không chịu bú, bạn hãy chắc chắn rằng bạn đã rơ lưỡi đều đặn và sạch sẽ cho bé. Khi mà bú mẹ, sữa sẽ đóng thành từng mảng dày trong lưỡi bé khiến các bé không có cảm giác ngon khi bú sữa, và thậm chí rất khó để bé bú. Vì thế các mẹ hãy rơ lưỡi cho các bé hàng ngày bằng miếng rơ lưỡi có bán ở các hiệu thuốc hoặc có thể sử dụng khăn sữa quét thêm tí mật ong để việc rơ lưỡi bé được dễ dàng và nhanh sạch nhé.

Khi các bé hay khóc đêm, các bà mẹ rất lo lắng và xót con nhưng không biết nguyên nhân vì đâu. Tôi cũng có đi tham khảo nhiều thông tin, rằng các bé khi bị đau bụng dạ đề và người ta cũng đưa ra nhiều bài thuốc để chữa. Thế nhưng chúng ta không biết chắc rằng bé có đau bụng dạ đề thật hay không, hay vẫn còn có nhiều nguyên nhân khác nữa. Các mẹ hãy thử làm thế này, lấy quả trứng gà luộc lên, bẻ đôi ăn hết lòng đỏ của trứng, lấy chiếc nhẫn, dây hoặc miếng bạc rồi bỏ vào giữa lòng trắng trứng và bắt đầu chà lên mặt, cổ, hai bên tai, cánh tay, rồi sau lưng và mông bé. Miếng bạc sẽ bị đen đi, chúng ta có thể làm sạch bằng cách chà bằng tro bếp. Ngoài những tác dụng để bé bớt khóc đêm thì việc này cũng làm cho lông bé rụng nhanh hơn. Ngoài ra thì khi chúng ta cũng có thể lấy lá vông để tắm cho bé cũng giúp rụng lông nhanh chóng.
Các mẹ thường hay kiêng cữ không dám tắm cho bé, thế nhưng tôi thì thường xuyên tắm cho bé hai đến ba ngày một lần khi bé còn mới sinh. Xót và cảm thấy ngứa ngáy cũng là một trong những nguyên nhân khiến các bé không chịu ngủ. Đến tận bây giờ thì  bé vẫn có thói quen tắm hằng ngày và rất dạn nước. Chính vì thế mà các mẹ đừng sợ cho con trẻ làm quen với nước để có đề kháng tốt hơn mỗi khi tắm rửa cho con. Với mỗi lần con khóc, các mẹ cũng rất hay xót con nên thường bế bé ngay sau đó. Ngay từ bé tôi đã tập cho con mỗi lần con khóc tôi vẫn để bé nằm giữa giường và mẹ chỉ đứng gần hỏi chuyện và à ơi hoặc hát ru cho bé đỡ khóc. Nếu như bé của bạn khóc quá to, hãy để cho bé khóc một lát, khi nào qua cơn khóc đấy hãy bế bé, rồi vỗ về và an ủi. Đồng thời lúc đó các mẹ cũng cố gắng tập cho bé tự chơi và quan sát mọi thứ xung quanh bằng cách mở tivi hoặc mở nhạc cho bé nghe. Thế nhưng mẹ cũng cần giao tiếp với bé thật nhiều bằng cách hãy nhìn vào mắt bé và nói chuyện khi cho bé bú. Hãy kể chuyện và nói chuyện với bé như nói với một người trưởng thành. Mặc dù rằng bé chưa nói được nhưng bé có thể nghe, hiểu và dần dần sẽ phát triển khả năng ngôn ngữ.
Theo Kienthucgiadinh


Thứ Ba, 23 tháng 7, 2013

Siêu thực phẩm cho thai nhi đủ chất

Khi mang thai, mẹ bầu nhớ bổ sung trứng, sữa chua, nước cam… vào thực đơn hàng ngày nhé!

Ăn uống để con đủ chất, phát triển tốt mà mẹ bầu không tăng cân quá nhiều là mong muốn của hầu hết chị em đeo "bao lô ngược". Tuy nhiên, không phải ai cũng chọn được những loại thực phẩm để bổ sung đủ dinh dưỡng cho thai kỳ. Theo các nhà nghiên cứu, phụ nữ mang thai cần bổ sung thêm 300 calo mỗi ngày. Vì vậy, mẹ bầu nên chọn những loại thực phẩm lành mạnh, giàu dưỡng chất mà không gây béo.

Nếu bạn đang phân vân trong việc chọn thực đơn mỗi ngày, hãy đừng bỏ qua 10 siêu thực phẩm dưới đây nhé!












Đối phó với dư ối khi mang bầu

Khi thấy bụng mình lớn nhanh, da bụng căng bóng, khó chịu, thở mệt, có thể bạn mắc phải chứng dư ối trong thai kỳ.

Thường xảy ra ở tuần thứ 30

Thông thường, lượng ối của thai nhi liên tục tăng và ở tuần thứ 38, lượng ối chuẩn vào khoảng 1 lít. Thai nhi sẽ nuốt nước ối thải qua cơ thể giống như cơ chế đi tiểu. Đây là cách em bé kiểm soát lượng nước ối quanh mình.

Nhưng khi em bé không nuốt nước ối, lượng ối xung quanh có thể tăng nhanh chóng. Và khi lượng ối vượt qua mức 2 lít được gọi là dư ối (hay đa ối). Với những trường hợp dư ối nghiêm trọng, lượng ối có thể tới 3 lít, nhiều gấp 3 lần so với chỉ số bình thường.

Dư ối khi mang bầu thường xảy ra tuần 30 của thai kỳ, tuy nhiên có trường hợp thai 20 tuần đã xuất hiện đa ối. Dư ối thường gây nên các biểu hiện thai nghén như: khó tiêu, ợ nóng, táo bón, phù chân, tĩnh mạch giãn.

Khi đi kiểm tra, bác sĩ sẽ khó nghe nhịp tim thai. Siêu âm có thể khẳng định chính xác trạng thái dư ối qua việc đo ối ở 4 điểm quanh em bé để tính chỉ số ối (AFI). Chỉ số thường khi nằm ở khoảng 10 – 25cm trong giai đoạn thứ 3 của thai kỳ. Vì thế nếu AFI vượt ngưỡng 25cm nghĩa là bạn mắc dư ối. Chỉ số AFI càng cao, tình trạng dư ối càng nghiêm trọng. Không chỉ gây sinh non, dư ối còn khiến sản phụ đối mặt với việc mổ bắt con, băng huyết nguy hiểm.

Xử lý rút ối

Trong khoảng 2/3 trường hợp dư ối không tìm ra nguyên nhân. Các nguyên nhân ở mẹ có thể do mẹ mắc tiểu đường, mang bầu sinh đôi cùng trứng và hai em bé mắc hội chứng dẫn truyền. Sự bất thường nhiễm sắc thể như hội chứng down hay nếu nhiễm trùng các loại khuẩn lậu, giang mai, thai phụ cũng có thể dẫn đến hiện tượng dư ối.
Đối phó với dư ối khi mang bầu - 1
Khi thấy bụng mình lớn nhanh, da bụng căng bóng, khó chịu, thở mệt, có thể bạn mắc phải chứng dư ối trong thai kỳ (Ảnh minh họa)

Cũng có khi dư ối do một biến chứng nào đó ở em bé đã ngăn cản ối đi qua thực quản khiến bé không thể nuốt nước ối. Trong trường hợp nghiêm trọng, sản phụ cần can thiệp để rút bớt nước ối nhằm giảm nguy cơ sinh con hoặc nhau thai rời khỏi thành tử cung.

Quá trình rút ối tiềm ẩn nhiều rủi ro như làm tăng nguy cơ nhiễm trùng và có thể gây chuyển dạ. Khi rút ối, lượng nước ối cũ được lấp đầy nên mẹ phải tiếp tục rút ối để cân bằng lượng nước ối bình thường. Với những trường hợp nhẹ và không tìm ra nguyên nhân gây đa ối, tình trạng đa ối có thể sẽ tự trở nên tốt hơn theo tiến trình thai kỳ.

Nếu trục trặc về ối được xác định từ bé như hội chứng dẫn truyền ở bé sinh đôi chẳng hạn, bạn sẽ được kê thuốc làm giảm lượng nước tiểu mà em bé thải ra. Trong điều kiện bé có bất thường cần phẫu thuật, mẹ sẽ được chỉ định sinh sớm để bảo toàn tính mạng cho trẻ tối đa.

Cách đối phó

- Nghỉ ngơi nhiều hơn

- Ăn một lượng nhỏ thường xuyên

- Không nằm xuống sau bữa ăn

- Không ăn trước khi ngủ

- Ngủ kê cao gối

- Tránh thực thẩm và đồ uống như chất béo, cà phê, rượu

Chủ Nhật, 24 tháng 6, 2012

12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc

Một số thực phẩm không chỉ do cách lưu trữ không khoa học mà bản thân đã tiềm tàng những chất độc. Vào mùa hè chúng ta phải rất thận trọng.

1. Giá đỗ không có rễ
12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc, An toàn thực phẩm, Sức khỏe đời sống, Ngo doc thuc pham, chat doc, gay benh, bị nhiễm,  chất độc, nhiễm độc, thực phẩm, gây mê, ngộ độc, cà chua, nảy mầm, lưu trữ thực, nôn mửa, quái thai, rong biển.
Giá đỗ không có dễ gây đột biến
Trong quá trình sản xuất giá đỗ, một số cá nhân đã ứng dụng tác dụng của thuốc diệt cỏ để phát triển mầm đậu không có gốc. Thuốc diệt cỏ có chứa chất độc hại gây ung thư, quái thai và gây đột biến mà khi đưa vào cơ thể chúng gây ra những tác động nghiêm trọng.

2. Khoai tây nảy mầm
12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc, An toàn thực phẩm, Sức khỏe đời sống, Ngo doc thuc pham, chat doc, gay benh, bị nhiễm,  chất độc, nhiễm độc, thực phẩm, gây mê, ngộ độc, cà chua, nảy mầm, lưu trữ thực, nôn mửa, quái thai, rong biển.
Mầm khoai tây có chứa solanine đắng và độc.
Mầm khoai tây có chứa solanine, một loại glyco-alkaloid đắng và độc. Solanine có thể xuất hiện một cách tự nhiên trong bất cứ bộ phận nào của cây, bao gồm cả lá, quả và củ. Nó rất độc, thậm chí với hàm lượng rất nhỏ. Ngoài ra chất này còn có ở cà chua và các cây khác trong họ Solanaceae. Solanine có tính gây mê và trước đây được dùng để chữa chứng động kinh. Olanine được tạo thành từ alkaloid solanidine và carbohydrate (glyco-) mạch nhánh.

3. Cà chua xanh
12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc, An toàn thực phẩm, Sức khỏe đời sống, Ngo doc thuc pham, chat doc, gay benh, bị nhiễm,  chất độc, nhiễm độc, thực phẩm, gây mê, ngộ độc, cà chua, nảy mầm, lưu trữ thực, nôn mửa, quái thai, rong biển.
Cà chua xanh có thể gây ngộ độc
Cà chua xanh có chứa chất độc Solanine. Do đó, khi ăn cà chua xanh, khoang miệng có cảm giác đắng chát; sau khi ăn có thể xuất hiện các triệu chứng ngộ độc như chóng mặt, buồn nôn, nôn mửa… Giới khoa học còn cảnh báo ăn cà chua xanh sống càng nguy hiểm.

4. Chè bị mốc
Chè là thức uống vô cùng quý giá cho sức khỏe con người. Nhưng lưu ý, nếu phát hiện chè bị mốc tức là nó đã nhiễm penicillin và aspergillus. Nếu uống trà bị mốc, nhẹ cũng cảm thấy chóng mặt, tiêu chảy.

5. Hạt cà phê tươi
Hạt cà phê tươi có thể gây ra hội chứng tán huyết, dị ứng, mệt mỏi, thiếu máu và các triệu chứng khác.

6. Rong biển đổi màu
Màu sắc của rong biển tiết ra chất peptide cyclic, fucose, một chất độc tố độc hại. Nếu sau khi ngâm nước lạnh, rong biển chuyển sang màu xanh tím than thì điều đó có nghĩa là rong biển đã bị nhiễm độc trước khi làm khô, đóng gói. Loại rong biển này rất có hại cho cơ thể.

7. Bắp cải thối
12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc, An toàn thực phẩm, Sức khỏe đời sống, Ngo doc thuc pham, chat doc, gay benh, bị nhiễm,  chất độc, nhiễm độc, thực phẩm, gây mê, ngộ độc, cà chua, nảy mầm, lưu trữ thực, nôn mửa, quái thai, rong biển.
Ăn cải bắp thối có thể bị ngộ độc ôxy
Trong bắp cải thối có chứa nitrite, chất này đóng vai trò trong sự hình thành methemoglobin trong máu người, khiến máu mất các chức năng oxy, làm cho ngộ độc oxy, chóng mặt, đánh trống ngực, nôn mửa, tím môi… bị nặng có thể gây bất tỉnh, co giật, khó thở, không kịp thời cứu hộ có thể đe dọa tính mạng.

8. Gừng héo
12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc, An toàn thực phẩm, Sức khỏe đời sống, Ngo doc thuc pham, chat doc, gay benh, bị nhiễm,  chất độc, nhiễm độc, thực phẩm, gây mê, ngộ độc, cà chua, nảy mầm, lưu trữ thực, nôn mửa, quái thai, rong biển.
Chất độc tố trong củ gừng héo có thể gây biến đổi tế bào gan
Gừng tươi là thực phẩm không nên để lâu bởi sau một vài ngày nó sẽ bị mềm, tóp đi và hỏng dần ở các nhánh nhỏ và các vết cắt, nếu vì tiếc rẻ mà cố cắt bỏ phần hỏng và dùng tiếp phần nguyên vẹn của củ gừng thì bạn nên biết rằng, theo một số nghiên cứu thấy rằng do quá trình dập nát, cũ hỏng mà bên trong củ gừng đã xảy ra một chất độc hại có tên là shikimol. Chất này nằm trong cả củ gừng chứ không phải chỉ ở phần giập nát nên không thể cắt bỏ hết. Đây là hoạt chất với độc tính rất cao có thể gây sự biến đổi tế bào gan của một người đang khoẻ mạnh, cho dù lượng chất này có thể bị hấp thụ rất ít.

9. Khoai có đốm đen trên vỏ
12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc, An toàn thực phẩm, Sức khỏe đời sống, Ngo doc thuc pham, chat doc, gay benh, bị nhiễm,  chất độc, nhiễm độc, thực phẩm, gây mê, ngộ độc, cà chua, nảy mầm, lưu trữ thực, nôn mửa, quái thai, rong biển.
Khoai tây có đốm đen trên vỏ chứng tỏ đã nhiễm nấm
Khoai có chứa nhiều chất xơ, protein, các vitamin A, C, B6, E, sắt, canxi... nên nó đứng cao nhất về giá trị dinh dưỡng so với các loại rau củ khác. Tuy nhiên khi chọn mua hay khi ăn cần chú ý để tránh “rước họa”. Nếu thấy trên vỏ khoai xuất hiện những đốm đen chứng tỏ nó đã bị nhiễm nấm, ăn vào sẽ dễ trúng độc.

10. Mộc nhĩ trắng biến chất
Mộc nhĩ trắng (còn gọi là ngân nhĩ hay nấm tuyết) đã biến chất, biểu hiện dưới các dấu hiệu như màu ngả vàng, kém tươi, không đàn hồi, … chứng tỏ nó đã bị nhiễm khuẩn flavobacterium. Sau khi ăn có thể xuất hiện các triệu chứng ngộ độc như chóng mặt, đau bụng, tiêu chảy…

11. Đậu xanh không nấu chín
Đậu xanh có chứa saponin và lectins, saponin, một chất gây kích thích mạnh mẽ đối với đường tiêu hóa của con người, có thể gây ra viêm xuất huyết, giải thể các tế bào máu đỏ. Trong đậu cũng chứa hemagglutinin với tập hợp tế bào máu đỏ gây ra ngộ độc sau khi ăn. Vì vậy nếu ăn đậu xanh chưa nấu chín dễ bị ngộ độc.

12. Dưa muối chưa kỹ
12 loại thực phẩm dễ bị nhiễm độc, An toàn thực phẩm, Sức khỏe đời sống, Ngo doc thuc pham, chat doc, gay benh, bị nhiễm,  chất độc, nhiễm độc, thực phẩm, gây mê, ngộ độc, cà chua, nảy mầm, lưu trữ thực, nôn mửa, quái thai, rong biển.
Dưa hoặc cà muối chưa kỹ chứa nhiều nitrate, ăn vào rất có hại cho cơ thể.
Các loại dưa muối nói chung (kể cả cà muối) là thực phẩm được chế biến bằng cách sử dụng muối trộn chung với một số thân, lá, hoa, quả, củ để làm lên men chua dưới tác dụng của một số vi sinh vật. Ăn dưa muối đem lại nhiều tác dụng tích cực cho cơ thể và bữa ăn hàng ngày.

Dù có những tác dụng như trên nhưng nếu không biết sử dụng đúng cách thì dưa muối đôi khi lại trở thành thứ gây hại. Bởi vì trong một vài ngày đầu muối dưa, vi sinh vật sẽ chuyển hóa nitrat trong các nguyên liệu thành nitric, làm hàm lượng nitric tăng cao, độ pH giảm dần (có nghĩa là độ chua tăng dần lên). Ăn dưa ở giai đoạn này thì có vị cay, hăng, hơi đắng vì chưa đạt yêu cầu. Loại dưa này chứa nhiều nitrate, ăn vào rất có hại cho cơ thể.

Thứ Tư, 20 tháng 6, 2012

Tía tô chữa mụn cơm, mụn cóc

Trong dân gian lưu truyền rất nhiều kinh nghiệm chữa trị mụn cơm, mụn cóc. Có một cách chữa trị mụn cơm, mụn cóc (đặc biệt là mụn cóc) rất hay, vô cùng đơn giản, hiệu quả lại dễ thực hiện đối với mọi lứa tuổi. Chỉ cần vò nát (hoặc giã nát) lá và cuộng tía tô, đắp lên mụn cóc.
Tía tô chữa mụn cơm, mụn cóc
Tía tô chữa mụn cơm, mụn cóc.

Có thể dùng vải để quấn chặt hoặc dùng băng dính cố định chỗ đắp. Hiệu quả nhất là làm vào buổi tối trước khi đi ngủ để tránh nước hoặc các hoạt động làm xô lệch chỗ đắp. Làm liên tục như vậy trong vài tuần, bạn sẽ thấy các mụn cóc se nhỏ lại.
Đặc biệt phải chú ý đắp đúng vào mụn cái (thường có một mụn cái chính, rồi mọc các mụn con xung quanh), miệng mụn sẽ dần se lại, teo nhỏ rồi mất hẳn. Mụn cái chính mất đi, các mụn con xung quanh một thời gian sau cũng tự nhiên biến mất. Da sẽ trở lại mịn màng, không chút dấu vết gì của mụn cơm, mụn cóc.

(st)

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2012

Để trẻ đạt chiều cao lý tưởng

Bảo Bảo được 2 tuổi rưỡi ^_^

Trong giai đoạn mang thai, nếu mẹ tăng cân tốt trẻ có thể đạt chiều dài lúc sinh là 48-53 cm. Khác nhau 1cm sơ sinh có thể khác 10cm khi trưởng thành.
Cha mẹ nào cũng mong muốn con mình có một chiều cao lý tưởng. Một số người cho rằng chiều cao phụ thuộc nhiều vào yếu tố di truyền. Tuy nhiên, thực tế, chiều cao của trẻ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác.

Dưới đây, Phó giáo sư-tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia (Bộ Y tế) tư vấn một số yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng chiều cao ở trẻ:

1. Yếu tố dinh dưỡng trong các giai đoạn quan trọng

- Giai đoạn bào thai:
Chỉ trong vòng 9 tháng 10 ngày, nếu mẹ tăng cân tốt trẻ có thể đạt chiều dài lúc sinh là 48-53cm, làm nền tảng tốt cho sự tăng trưởng chiều cao sau khi sinh. Khác nhau 1 cm sơ sinh có thể khác 10 cm khi trưởng thành.
Sự thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng như: thiếu máu, protein, sắt, folate, B12... trong thời kỳ bào thai ảnh hưởng tới tỷ lệ bệnh tật, sinh thiếu tháng, suy dinh dưỡng bào thai và khiếm khuyết ống thần kinh của trẻ sơ sinh.
- Giai đoạn dưới 3 tuổi:
Năm thứ nhất, trẻ tăng 25cm (là năm tăng trưởng nhanh nhất trong cuộc đời của trẻ). Năm thứ hai và thứ 3: mỗi năm tăng 10cm.
Cơ thể trẻ cần các chất dinh dưỡng để cấu tạo, phát triển cơ thể cũng như để hoạt động. Vì vậy, trẻ cần được cung cấp đủ năng lượng, với 4 nhóm chất: đạm, tinh bột, chất béo và vitamin, khoáng chất.
Chiều cao có thể phụ thuộc chủ yếu vào sự phát triển của bộ xương, vì vậy ngoài ngoài protein, còn rất nhiều loại vitamin và khoáng chất có liên quan. Trong đó, vitamin D, canxi và photpho là quan trọng hơn cả.
Vitamin A, sắt và kẽm cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển chiều cao.
- Giai đoạn dậy thì:
Trong giai đoạn tiền dậy thì và dậy thì sẽ có một năm chiều cao tăng vọt 10-12cm nếu trẻ được chăm sóc tốt, nhưng không thể dự đoán được chính xác đó là năm nào. Sau dậy thì, cơ thể vẫn còn tiếp tục cao nhưng tổng cộng chiều cao của các năm sau không bằng một năm chiều cao tăng vọt của giai đoạn dậy thì.
Ngoài ra, dậy thì sớm cũng ảnh hưởng tới chiều cao của trẻ. Khi trẻ bắt đầu dậy thì, xương phát triển mạnh nhưng đầu xương cũng nhanh chóng đóng lại khi trẻ dậy thì hoàn toàn. Trẻ dậy thì sớm có xu hướng lớn nhanh trong giai đoạn dậy thì nhưng sau đó lại không cao lên nữa khiến trẻ thấp hơn bạn bè khi trưởng thành.

2. Bệnh tật ở trẻ

- Các loại bệnh mãn tính và bẩm sinh như: tim bẩm sinh, đau dạ dày... cũng là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển chiều cao của bé.
- Mắc các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính cũng là nguyên nhân khiến trẻ bị giảm sút chiều cao.
Một nghiên cứu của Brazil trên 119 trẻ trong 10 năm cho thấy, trong 2 năm đầu đời nếu trung bình trẻ bị 7 đợt tiêu chảy thì lúc lên 7 tuổi, trẻ sẽ thấp hơn 3,6cm so với bạn cùng nhóm tuổi không nhiễm bệnh. Còn nếu trẻ bị giun đường ruột thì lúc lên 7 tuổi sẽ thấp hơn các bạn khác không nhiễm giun 4,6 cm.
Như vậy, trẻ có nguy cơ sút giảm tới 8,2 cm chiều cao nếu vừa bị tiêu chảy và vừa có giun sán trong người.

3. Các hoạt động thể chất

- Tập luyện thể thao là yếu tố quan trọng trong việc phát triển chiều cao của bé. Bởi vận động giúp hệ tuần hoàn ổn định, cải thiện và giúp xương phát triển tốt. Trẻ được chơi các môn thể thao như: bóng rổ, bóng chuyền, bóng đá, bơi lội... thường cao hơn.
- Cha mẹ cần khuyến khích và tạo điều kiện cho trẻ vận động, luyện tập ít nhất một giờ mỗi ngày.

4. Tình trạng giấc ngủ

Với trẻ, giấc ngủ đóng vai trò vô cùng quan trọng và nó ảnh hưởng tới sự phát triển chiều cao.
- Trẻ sơ sinh thường ngủ 22 tiếng, 2-6 tháng cần ngủ 15-18 tiếng, 6-18 tháng ngủ đủ 13-15 tiếng, 18 tháng đến 3 tuổi nên ngủ 12-13 tiếng và trẻ từ 3 đến 7 tuổi nên ngủ 11-12 tiếng mỗi ngày.
- Nên cho trẻ đi ngủ trước 22 giờ đêm, một giấc ngủ sâu từ 22 giờ đến 3 giờ sáng là lúc cơ thể tiết ra hoócmôn tăng trưởng cao nhất.

5. Yếu tố môi trường và xã hội

- Khoảng 20% chiều cao phụ thuộc vào môi trường ở đâu và điều kiện sống như thế nào.
- Chiều cao phụ thuộc vào sự tăng trưởng của xã hội về dịch vụ chăm sóc sức khỏe có sẵn, giáo dục về dinh dưỡng, thực phẩm có sẵn. Điều này giải thích tại sao chiều cao trung bình ở các nước phát triển cao hơn so với các quốc gia khác.

(sưu tầm)

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

Bệnh tay chân miệng – Phòng ngừa, điều trị và dinh dưỡng

Bệnh tay chân miệng do siêu vi trùng đường ruột thuộc nhóm Coxasackieviruses và Enterovirus 71 gây ra. Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, gặp nhiều nhất là ở trẻ dưới 3 tuổi. Bệnh xảy ra quanh năm, tăng cao từ tháng 2 – 4 và từ tháng 9 – 12 trong năm. Bệnh lây nhanh từ trẻ này sang trẻ khác từ các chất tiết mũi, miệng, phân, nước bọt lúc trẻ bệnh ho, hắt hơi.

Biểu hiện của bệnh
Thời gian ủ bệnh: từ 3 – 6 ngày.
Sốt: có thể sốt nhẹ thoáng qua, cũng có thể sốt cao 39- 400C.
Đau họng, chảy nước bọt liên tục.
Biếng ăn hoặc bỏ ăn.
Khó ngủ, quấy khóc, run chi, giật mình nhiều một cách bất thường.
Sang thương da, niêm chủ yếu nằm ở miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.
Sang thương ở miệng đa số là những vết loét đỏ (do các bóng nước vỡ ra), đường kính 2-3mm ở vòm họng, niêm mạc má, nướu răng, lưỡi.
Sang thương ở da: thường là bóng nước, có đường kính 2 – 10mm, hình bầu dục, hoặc hơi tròn, nổi cộm hay ẩn dưới da trên nền hồng ban, không đau, khi bóng nước khô để lại vết thâm da.
Chú ý: có một số trường hợp không điển hình chỉ có loét miệng, sang thương da rất ít, hoặc không rõ ràng dạng bóng nước, mà chỉ là dạng chấm hoặc hồng ban.



Các triệu chứng khi có biến chứngTriệu chứng thần kinh: rung giật cơ, bứt rứt, lừ đừ, chới với, yếu chi, co giật, hôn mê.
Triệu chứng của đường hô hấp và tim mạch: thường xuất hiện khi bệnh trở nặng: mạch nhanh, da nổi bông, tay chân lạnh, thở nhanh hơn bình thường, sùi bọt hồng ở miệng.
Các xét nghiệm cần làm: chỉ làm các xét nghiệm theo chỉ định của BS: công thức máu, đường máu, khí máu,
X-quang phổi…


Phân độ nặng của bệnh:Độ 1: chỉ có loét miệng và hoặc sang thương ở da.
Độ 2: rung giật cơ, bức rức, chới với.
Độ 3: yếu liệt chi, liệt các dây thần kinh sọ, co giật, hôn mê.
Độ 4: suy hô hấp, phù phổi, tăng huyết áp, trụy mạch.



Phân biệt với các bệnh khác:
Dị ứng da: sang thương hồng ban đa dạng nhiều hơn bóng nước.
Viêm da mủ: sang thương đau, đỏ, có mủ, không có sang thương trong niêm mạc miệng.
Thủy đậu: sang thương có nhiều lứa tuổi và rải rác toàn thân, không tập trung đặc biệt ở một vùng nào.


Biện pháp điều trị
Nguyên tắc:
Điều trị triệu chứng: Theo dõi sát, phát hiện sớm các triệu chứng của biến chứng để cho trẻ nhập viện.
Điều trị tại nhà: chỉ điều trị tại nhà những trẻ bị bệnh tay chân miệng độ I.
Hạ sốt, giảm đau: dùng paracetamol 10 -15mg/kg cân nặng/ mỗi 4 – 6 giờ, chỉ sử dụng khi trẻ sốt từ 38oC trở lên.
Vệ sinh răng miệng bằng cách cho trẻ súc miệng với nước muối pha loãng.
Nghỉ ngơi.
Sử dụng thêm các vitamin C, vitamin PP, vitamin A và kẽm theo toa bác sĩ để hỗ trợ cho da, niêm mạc mau lành.
Dùng kháng sinh theo toa bác sĩ khi có bội nhiễm.
Tái khám mỗi 1-2 ngày trong 7 ngày đầu của bệnh.
Theo dõi các dấu hiệu nặng: khi có một trong các triệu chứng sau: sốt cao trên 39oC, giật mình liên tục, run chi, chới với, quấy khóc, bứt rứt, co giật thì người nhà cần đưa bé vào bệnh viện ngay.

Dinh dưỡng trong bệnh tay chân miệngTrẻ bị bệnh tay chân miệng thường rất biếng ăn, thậm chí có thể bỏ ăn do các vết loét trong niêm mạc miệng gây đau. Vì vậy, thức ăn cho trẻ cần chọn lựa sao cho mềm, mịn, mát lạnh nhằm tạo cảm giác dễ chịu khi thức ăn, thức uống đi ngang qua vết loét. Như vậy, những thực phẩm có thể dùng cho trẻ là: bột dinh dưỡng, sữa, sữa chua, phô mai, bánh Flan, tàu hủ đường…
Nếu trẻ ăn kém, nên cho trẻ ăn nhiều lần hơn lúc bình thường để tránh tình trạng hạ đường huyết có thể xảy ra. Cần chú ý muỗng (thìa) dùng để đút cho trẻ nên tránh những loại có cạnh sắc bén, để không đụng vào các vết loét ở đầu lưỡi và môi làm bé đau dẫn đến sợ hãi, không ăn. Khi trẻ giảm bệnh (thường là sau 4 – 5 ngày) nên cho bé ăn trở lại bình thường, không kiêng khem.

Biện pháp phòng ngừa
Rửa tay trước khi ăn, sau khi đi tiêu, sau khi mặc, thay tả, hoặc sau khi tiếp xúc với những vết loét, phân, nước tiểu, nước bọt của trẻ bệnh.
Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà bằng dung dịch sát khuẩn.
Cách ly trẻ bệnh để tránh tình trạng bệnh lây lan nhanh trong cộng đồng.





Theo meyeucon.org